dhthinh’s blog

Đi tìm hình mẫu Alibaba.com cho thương mại điện tử Việt Nam

Thương mại điện tử (TMĐT) là một khái niệm mới. Mặc dù ra đời chưa lâu nhưng nó đã nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình nhờ sức hấp dẫn cũng như đà phát triển khá ngoạn mục. Cùng với sự phát triển chóng mặt của Internet, TMĐT đang có những bước tiến rất nhanh với tốc độ ngày càng cao.
Những đặc điểm của TMĐT

Đây là loại hình kinh doanh sử dụng hệ thống mạng Internet toàn cầu để xây dựng nên một “thị trường ảo” cho tất cả các loại hình sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và hàng hoá, trong đó bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để hoàn tất một thương vụ kinh doanh, kể cả đàm phán, trao đổi chứng từ, truy cập thông tin, thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Tất cả được thực hiện trong điều kiện an toàn và bảo mật cao. Vì thế, TMĐT còn có những tên gọi khác như “nền kinh tế ảo”, “nền kinh tế dot-com”.

Nếu như trong kinh doanh truyền thống, sản phẩm của các doanh nghiệp được bày trên các kệ của cửa hàng hay siêu thị với các thủ tục đặt hàng, giao hàng, thanh toán công nợ giữa người bán và người mua…thì trong thương mại điện tử, chúng ta không cần phải vận chuyển sản phẩm, không tốn tiền thuê mặt bằng mà vẫn có thể tiếp cận được khách hàng thông qua các siêu thị ảo,chợ ảo trên mạng. Chỉ cần một cú nhấp chuột, bạn có thể ngồi bất cứ nơi đâu mà vẫn dễ dàng làm một cuộc dạo chơi hay mua sắm trên mạng với vô vàn sản phẩm, từ cây kim sợi chỉ cho đến xe hơi, du thuyền. Nói chung, với sự trợ giúp của Internet, TMĐT đã trở thành một môi trường kinh doanh mới, xóa nhòa mọi ranh giới quốc gia và đang tạo ra một thị trường lớn nhất từ trước đến nay. Với TMĐT, thế giới có thêm nhiều triệu phú, tỷ phú mà tên tuổi đã trở thành biểu tượng của một thời đại mới – thời đại Internet và nền kinh tế tri thức.

So với thương mại truyền thống, TMĐT tỏ ra là một công cụ kinh doanh hữu hiệu với những ưu thế vượt trội. Cách đây khoảng ba thập kỷ, General Electric (GE), tập đoàn điện tử tiêu dùng hàng đầu thế giới, vẫn còn “ì ạch” giao dịch với các đối tác kinh doanh bằng thư từ vận chuyển trên tàu thuỷ có tốc độ khoảng 20 dặm/giờ. Chính GE cũng nhận thấy những bất cập của cách làm này và sau đó đã thay thế tàu thuỷ bằng máy bay, nhưng cũng phải mất gần 1 tuần, những bản chào hàng hay dự thảo hợp đồng mới đến được tay đối tác. Nỗi băn khoăn lớn của GE là làm thế nào rút ngắn “thời gian chết” để giao dịch thương mại diễn ra nhanh chóng hơn? Và rồi mọi việc đã thay đổi một cách khó tin. Thương mại điện tử (TMĐT) xuất hiện vào cuối thập niên 80 đã làm nên cuộc cách mạng trong kinh doanh, khi mà thư từ giao dịch được truyền tải với tốc độ lên đến 30,000 dặm/giây. Thay vì mất 1 tuần như trước kia thì nay chỉ cần chưa đầy 1 phút, chỉ cần một cú click chuột, khách hàng đã nhận được bảng báo giá với đầy đủ thông tin từ GE để rồi hai bên có thể giao kết hợp đồng ngay trong ngày. Giờ đây, bất cứ doanh nhân nào khi được hỏi về TMĐT, cũng đều thừa nhận ưu thế vượt trội của loại hình kinh doanh mới mẻ này – đó là tốc độ, chi phí, khách hàng và xử lý đơn hàng.

Trong TMĐT có hai khái niệm chính:

B2B (Business To Business): Là hình thức kinh doanh giữa các nhà cung cấp, giữa nhà sản xuất sản phẩm và các đại lý. Thương mại điện tử B2B trước hết là quá trình thực hiện việc mua và bán trực tuyến trên mạng giữa các công ty với nhau, là nơi mà các công ty có thể mua bán hàng hoá trên cơ sở sử dụng một nền công nghệ chung. Khách hàng có thể chào mua, chào bán sản phẩm đồng thời có thể nhận được những giá trị gia tăng như dịch vụ thanh toán hay dịch vụ hậu mãi, nhận các bản tin tức kinh doanh, tham gia thảo luận trực tuyến…Ngoài ra, thương mại điện tử B2B còn có nhiều tác nghiệp khác giữa các công ty với nhau trong đó có việc quản lý dây chuyền cung ứng, từ nhà cung cấp đến công ty và từ công ty tới khách hàng.

B2C (Business To Customer): B2C là các giao dịch kinh doanh trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng thông qua mạng Internet. Giao dịch loại này còn được gọi là giao dịch thị trường giúp doanh nghiệp tiếp cận với người tiêu dùng để từ đó chào bán các sản phẩm hoặc dịch vụ của họ cho khách hàng. Khi nói tới thương mại điện tử B2C, mọi người thường nghĩ đến Amazon.com, một công ty bán sách trực tuyến trên mạng đã thành công nhờ biết sử dụng công cụ Internet. Tuy nhiên, ngoài việc bán lẻ trên mạng, B2C đã phát triển cả các dịch vụ như ngân hàng trực tuyến, dịch vụ du lịch trực tuyến, đấu giá trực tuyến, thông tin về sức khoẻ và bất động sản…

Cả hai hình thức TMĐT này đều được thực hiện trực tuyến trên mạng Internet, tuy nhiên, giữa chúng tồn tại sự khác biệt. Trong khi TMĐT B2B được coi là hình thức kinh doanh bán buôn với lượng khách hàng là các doanh nghiệp, các nhà sản xuất thì TMĐT B2C lại là hình thức kinh doanh bán lẻ với đối tượng khách hàng chính là các cá nhân. Trong TMĐT B2B, việc giao dịch giữa một doanh nghiệp với một doanh nghiệp khác thường bao gồm nhiều công đoạn: từ việc chào bán sản phẩm, mô tả đặc tính kỹ thuật của sản phẩm cho đến đàm phán giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán… . Chính vì vậy mà các giao dịch này được coi là phức tạp hơn so với việc bán hàng cho người tiêu dùng.

Trên thế giới, xu hướng TMĐT B2B chiếm ưu thế vượt trội so với B2C trong việc lựa chọn chiến lược phát triển của các công ty kinh doanh trực tuyến. B2B được coi như là một kiểu “phòng giao dịch ảo”, nơi sẽ thực hiện việc mua bán trực tuyến giữa các công ty với nhau, hoặc cũng có thể gọi là sàn giao dịch mà tại đó, các doanh nghiệp có thể mua bán hàng hoá trên cơ sở sử dụng một nền công nghệ chung. Khi tham gia vào sàn giao dịch này, khách hàng có cơ hội nhận được những giá trị gia tăng như dịch vụ thanh toán hay dịch vụ hậu mãi, dịch vụ cung cấp thông tin về các lĩnh vực kinh doanh, các chương trình thảo luận trực tuyến và cung cấp kết quả nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng cũng như các dự báo công nghiệp đối với từng mặt hàng cụ thể.

Với ưu thế sẵn có của mình, thương mại điện tử B2B có thể giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong quá trình tham gia kinh doanh như chi phí quản lý kho bãi, mặt bằng, chi phí giấy tờ, tài liệu, chi phí đầu vào của sản phẩm, chi phí tổ chức nhân sự…

Dự đoán năm 2007, tổng doanh số TMĐT trên toàn cầu sẽ vượt qua mức 680 tỷ USD, còn theo
ước tính của Leadpile.com, một công ty chuyên theo dõi số liệu Internet, TMĐT sẽ vượt qua mốc 1000 tỷ USD vào năm 2012. Thậm chí, sự gia tăng doanh số của các hoạt động TMĐT đã trở thành tiền đề cho sự hình thành thị trường chứng khoán Nasdaq – nơi gặp gỡ của những công ty có tiếp vĩ ngữ “.com”. Những biến động của thị trường chứng khoán này luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số Dow Jones cùng các chỉ số khác tại hầu hết các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới.

Việt nam và những bước hội nhập

Cuối những năm 1990, TMĐT vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở nước ta. Nhưng dưới sức lan tỏa rộng khắp của TMĐT, các công ty Việt Nam cũng đang từng bước làm quen với phương thức kinh doanh hiện đại này.

Ngày 26 tháng 8 năm 2005, cổng TMĐT quốc gia ECVN với Bộ Thương mại là cơ quan chủ quản, có địa chỉ tại website http://www.ecvn.gov.vn đã chính thức ra mắt với mục đích hỗ trợ các công ty nhanh chóng làm quen và tham gia vào TMĐT, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước khi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu. Cổng giao dịch với ngôn ngữ thể hiện là tiếng Anh và tiếng Việt sẽ rất thuận tiện cho các công ty trong quá trình sử dụng và tra cứu.

Với tốc độ tăng trưởng tỷ lệ người sử dụng Internet là 123,4%/năm (cao nhất trong khu vực ASEAN), đạt 1,9 triệu thuê bao Internet và gần 5,9 triệu người sử dụng trong năm 2004, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển TMĐT. Theo dự báo về mức tăng trưởng thị trường công nghệ thông tin Việt Nam của IDG, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008, mức chi tiêu cho công nghệ thông tin của Việt Nam nằm trong tốp 10 nước đứng đầu thế giới và sẽ vượt qua Trung Quốc với tỷ lệ tăng trưởng đạt 16%. Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia rất nhanh nhạy với mô hình kinh doanh trực tuyến.

Tuy vậy, chúng ta không thể phủ nhận rằng hoạt động TMĐT tại Việt Nam vẫn còn có những điểm yếu nhất định. Hầu hết các website B2B chưa có định hướng hoạt động rõ ràng, mà chúng ta chủ yếu mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thiết lập và thử nghiệm, giá trị giao dịch thực tế còn rất thấp. Loại hình giao dịch B2B chưa thật sự hình thành ở Việt Nam. Các công ty nói chung khá nhanh nhạy trong việc áp dụng TMĐT, nhưng còn không ít công ty đến với hình thức này theo kiểu “phong trào”, chưa kể số lượng các website cung cấp dịch vụ TMĐT quy mô lớn chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Giấc mơ về một hình mẫu Alibaba.com tại Việt Nam.

Cả thế giới vẫn chưa hết ngạc nhiên về những bước tiến thần kì của mạng kinh doanh trực tuyến Alibaba.com của Trung Quốc. Được đánh giá như một “bà mối” mát tay cho các cuộc “hôn nhân” trong lĩnh vực thương mại, Alibaba.com đang càng ngày càng ăn nên làm ra với doanh thu và lợi nhuận tăng lên không ngừng. Từ một công ty nhỏ với số vốn đầu tư ban đầu không nhiều, Alibaba.com đã phát triển thành một đế chế với doanh thu năm 2004 là 2,1 tỷ USD trong đó có 780 triệu USD đến từ nguồn thương mại điện tử.

Trước sự sôi động của thị trường TMĐT thế giới, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã vào cuộc với mong muốn kết nối các doanh nghiệp trong nước với đối tác nước ngoài, mở ra những cơ hội kinh doanh mới trong sự hội nhập kinh tế quốc tế. Một trong số đó là Công ty tư vấn và cung ứng giải pháp TMĐT Tiên Phong (Eclead) với trang web www.gophatdat.com. Đúng như tên gọi của mình, công ty Tiên Phong đang muốn trở thành người tiên phong trong lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam với mong muốn kết nối các doanh nghiệp trong nước với các bạn hàng quốc tế, khơi thông dòng chảy giao thương, góp phần tạo ra sức mạnh cho nền kinh tế đất nước. Xuất hiện cách đây không lâu, trang web www.gophatdat.com đã nhanh chóng trở thành một trong những địa chỉ tin cậy cho các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường TMĐT sôi động. Đây là một sàn giao dịch TMĐT mang tính toàn cầu với nhiều loại danh mục hàng hóa, từ các mặt hàng nông sản, thực phẩm, thủy hải sản, may mặc, giày da… vốn là thế mạnh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cho đến các sản phẩm máy tính, điện tử hoặc các dịch vụ khác. Tại đây, khách hàng có thể dễ dàng chào mua, chào bán các sản phẩm, mở rộng các mối quan hệ giao thương với các đối tác tại nhiều quốc gia trên thế giới. Chỉ cần đăng thông tin lên mạng www.gophatdat.com yêu cầu của bạn sẽ được nhiều người biết đến, không chỉ giới hạn trong phạm vi địa lý hạn hẹp mà phổ biến rộng rãi trên toàn cầu. Đó cũng là một trong những tiêu chí kinh doanh của ban điều hành trang web – Bring Vietnam to the World (Mang Việt Nam đến với thế giới). Và đó cũng là ước muốn, khát khao chính đáng của các thành viên sáng lập trang web.

Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức nhưng kể từ khi Jeff Bezos, thành viên sáng lập kiêm giám đốc điều hành Amazon.com, đặt những viên gạch đầu tiên cho hoạt động TMĐT đến nay, sự thành công của Amazon.com, Buy.com, Cisco… đã cho thấy mối lo ngại rằng TMĐT có thể thay thế các hình thức kinh doanh truyền thống, khiến cho những con phố buôn bán sầm uất trở nên thưa thớt, là có cơ sở. Điều này cũng lý giải tại sao một người đàn ông có sự nghiệp thành công tại Wall Street như Jeff Bezos lại nhẹ nhàng từ bỏ công việc kinh doanh của mình, đi suốt chiều ngang nước Mỹ tới tận Seattle và bắt đầu một công ty trong lĩnh vực hoàn toàn mới, để rồi chưa đầy 4 năm sau đã biến nó thành một trong những công ty danh tiếng nhất thế giới về TMĐT. Hy vọng rằng trong tương lai không xa, với sự trợ giúp đắc lực của những công ty kinh doanh TMĐT như www.gophatdat.com, chúng ta cũng sẽ có những Alibaba.com mang tên Việt nam!

Tháng Tám 29, 2006 Posted by | Kiến thức | Để lại phản hồi

Chân dung nhân viên quan hệ công chúng

Họ là những nhân viên năng động với lịch làm việc dày đặc. Họ gặp gỡ và tiếp xúc với rất nhiều người thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giới truyền thông, cơ quan chính quyền, công ty dịch vụ, đại lý công ty và cả khách hàng … Hầu hết các cuộc gặp bắt đầu bằng những cái bắt tay thân thiện và kết thúc trong sự hiểu biết. Đó chính là hình ảnh về các nhân viên quan hệ công chúng (Public Relation – PR).

Ngày nay, vị trí của bộ phận Quan hệ công chúng (PR) đang ngày càng được chú ý nhiều hơn và nó cũng chiếm một vai trò quan trọng hơn trong các công ty. Quan hệ công chúng được định nghĩa là các phương pháp và hoạt động giao tiếp do một cá nhân, tổ chức hoặc chính phủ sử dụng để nâng cao sự hiểu biết và xây dựng mối quan hệ tích cực với các đối tượng bên ngoài. Nghề PR xuất hiện muộn và còn khá mới mẻ bởi tính đặc thù của nó. Với một chuyên gia PR giỏi và “biết việc” thì công ty sẽ có được rất nhiều lợi ích.

Các nhân viên PR thường xuyên bận rộn với đủ thứ công việc, nào là lập kế hoạch khuếch trương hình ảnh công ty, triển khai hành động, xem xét các nguy cơ có thể xảy ra từ một hoạt động nào đó, tìm cách giải quyết những rắc rối liên quan tới hình ảnh công ty… Trong quá trình làm việc, các nhân viên PR luôn nhận thức rõ rằng “Xây dựng và cải thiện các mối quan hệ là một phần quan trọng trong công việc của mình. Những mối quan hệ tốt đẹp sẽ giúp cho nhân viên nâng cao hiệu quả công việc”- Kevin Belson, một nhân viên PR làm việc tại P&G cho biết.

Từ con đường vào nghề với những phẩm chất riêng …

Với nhiều người, con đường dẫn đến nghề PR bắt đầu từ các điểm … bán hàng. Họ đã bán đồ chơi, đã bán rượu mạnh, hoặc bán đồ nội thất giao tận nhà… Việc giao dịch với nhiều khách hàng khác nhau hàng ngày đã dạy cho họ đôi điều căn bản về giao tiếp. “Những công việc đó dạy tôi nhìn nhận mọi việc theo quan điểm khách hàng và lắng nghe các yêu cầu của họ, cả hai đều là những kỹ năng rất quan trọng trong lĩnh vực PR”- Noka Hastsu, một nhân viên trong lĩnh vực PR của Nhật Bản cho biết.

Lại có nhiều người đến với lĩnh vực này theo những cách hoàn toàn khác. Sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành quốc tế học ở Trường Georgetown University, Washington D.C., Peter Dean đến làm việc cho một viện nghiên cứu hàng đầu chuyên về các dự án kỹ thuật. Peter chuyển dần từ vị trí nhân viên viết báo cáo cho chính phủ sang làm người chịu trách nhiệm ra thông cáo báo chí cho Pubcom, và rồi kế tiếp là vai trò nhân viên PR tại Pubcom. “Quan hệ công chúng là một nghề thú vị, đó là cách thức tuyệt vời để học hỏi văn hoá của đất nước nơi bạn đang công tác”- Peter cho biết,- “bởi khách hàng của bạn chủ yếu là các tổ chức thương mại, phi chính phủ hoặc văn hoá nghệ thuật”.

Với mặt bằng kiến thức chuyên môn vào nghề khác nhau, các nhân viên PR cho biết làm việc trong lĩnh vực này chú trọng vào kỹ năng nhiều hơn là trình độ học vấn. “Không có loại bằng cấp đặc biệt nào có thể giúp bạn làm ngay được các công việc về PR”, vì thế, các nhân viên PR có bằng đại học thuộc nhiều lĩnh vực từ nghệ thuật, ngôn ngữ đến kế toán hay luật.

Một nhân viên PR có tiềm năng phải có kỹ năng viết và giao tiếp tốt. Họ còn phải biết quan hệ ngoại giao và “cảm thấy thoải mái trong các tình huống không thoải mái”. Một vài kinh nghiệm về tiếp thị cũng rất quan trọng, còn kỹ năng tiếp thị thì có thể đúc kết được từ kinh nghiệm sống. Một nhân viên PR cho biết: “Tìm ra những cơ hội trong những vị trí khác nhau là điều cần thiết. Hãy học kinh nghiệm tiếp thị từ công việc của bạn, cho dù bạn đang ở trong một cửa hàng tranh nghệ thuật hay là một người phục vụ quán ăn”. Còn các chuyên gia PR thì khuyên những sinh viên muốn bước chân vào lĩnh vực này là nên bắt đầu thiết lập quan hệ ngay từ thời gian còn đi học. Xây dựng quan hệ nhiều các mối quan hệ và tham gia các công việc tình nguyện khác nhau sẽ giúp bạn có được những kỹ năng tốt. Một nhân viên lý tưởng trong ngành PR phải có tính sáng tạo cao và có nhiều sáng kiến. Họ còn phải có khả năng giao tiếp với một khách hàng và bán bất kỳ thứ gì, bất kỳ ý tưởng, hình ảnh hay kế hoạch nào. Ngoài ra, họ còn phải có khả năng làm việc như một thành viên trong một nhóm.

Vị trí công việc khởi đầu trong ngành PR thường là làm cán bộ khách hàng tập sự. Những công việc này yêu cầu bạn viết các thông cáo báo chí, chuẩn bị các bài thuyết trình, nghiên cứu, tư vấn và làm việc với khách hàng. Công việc tiếp theo là làm cán bộ khách hàng chính thức. Lúc này, bạn sẽ có thêm trách nhiệm về một dự án hoặc khách hàng cụ thể (ở nhiều công ty PR, mỗi dự án có một nhóm nhỏ các chuyên gia PR đảm nhiệm).

… đến việc trở thành chiếc cầu nối với thế giới bên ngoài
Tuỳ theo chức năng và phạm vi hoạt động ở mỗi công ty, các nhân viên PR còn được gọi là CORA (Corporate and Regulatory Affairs – Công việc đoàn thể và điều tiết) hay là EA (External Affairs – Công việc đối ngoại). Trong hầu hết các sự kiện có tính chất quan trọng nổi bật tại công ty, người ta đều thấy sự tham gia của các nhân viên PR. “Họ có thể chỉ như một thành viên trong dàn, nhạc nhưng cũng có thể là nhạc trưởng. Dù ở vị trí nào thì hoạt động của họ cũng có một vai trò đặc biệt- Đó là tạo ra cho công ty một hình ảnh lành mạnh với những cam kết làm ăn lâu dài”- Howard Deam, giáo sư môn PR tại đại học Boston, Mỹ, cho biết.

Trong các doanh nghiệp hiện nay, phạm vi hoạt động của nhân viên PR rất rộng, nhưng đa phần tập trung ở các mảng: tổ chức các sự kiện đặc biệt, khắc phục những bất ổn, quan hệ với giới truyền thông, với các cơ quan hữu trách… Bên cạnh đó, PR còn làm các công việc như trích lục thông tin, tài trợ, từ thiện, đối nội…

Bằng việc tổ chức các sự kiện đặc biệt như họp báo, giới thiệu sản phẩm mới, hội nghị khách hàng, các cuộc thi…, nhân viên PR sẽ thu hút được sự quan tâm của những người có liên quan và báo giới, và công ty nhờ vậy có thể được nhanh chóng quảng bá tới công chúng. Đối với những công ty đang tìm cách thâm nhập thị trường mới hoặc cung cấp những sản phẩm bị hạn chế quảng cáo (rượu mạnh, thuốc lá..), thì hoạt động PR trong lĩnh vực này là không thể thiếu.

Bên cạnh đó, sự tích cực quan hệ với báo giới và cơ quan chính quyền của nhân viên PR sẽ giúp công ty kịp thời ngăn ngừa hoặc giải quyết các rắc rối hoặc khủng hoảng tiềm ẩn có thể xảy ra. Ví dụ, một bức thư khiếu nại về chất lượng hay một bài báo thiếu thiện chí về một sản phẩm nào đó có thể sẽ không xuất hiện trên mặt báo, nếu nhân viên PR của công ty biết sớm thông tin này và tiến hành đàm phán với các bên có liên quan. Khi làm nhiệm vụ trích lục thông tin, nhân viên PR sẽ theo dõi báo chí thường xuyên và kịp thời phản ánh những thông tin bất lợi để công ty có những quyết sách hợp lý.

Còn trong một cuộc điều tra mới đây, hơn 70% giám đốc tiếp thị và giám đốc thương hiệu ở Mỹ và châu Âu tin rằng hoạt động PR giữ vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu. Theo họ, PR là một công cụ giao tiếp rất linh hoạt trong lĩnh vực tiếp thị như bán hàng trực tiếp hoặc qua điện thoại, các hoạt động tài trợ, triển lãm… Vai trò chính của nhân viên PR trong hoạt động xúc tiến thương mại là giúp công ty truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, các nhân viên PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới sản phẩm công ty mỗi khi đối diện với một thương hiệu nào đó.

Đối với mọi doanh nghiệp, danh tiếng và hình ảnh là thứ “tài sản” có giá trị rất lớn. Chính vì vậy, hoạt động PR còn được nhiều công ty đánh giá như một công cụ hiệu quả để xây dựng hình ảnh với chi phí thấp. Theo ước tính, chi phí PR trong các công ty ở Mỹ và châu Âu, nơi ngành PR phát triển mạnh mẽ nhất hiện nay, thông thường chỉ bằng khoảng 1/10 chi phí vẫn dành quảng cáo.

Thời gian gần đây, mặc dù đa số các công ty đều thành lập một bộ phận riêng để phụ trách hoạt động PR, nhưng do tính phức tạp và chuyên nghiệp của công việc nên không ít công ty vẫn cần dịch vụ hỗ trợ của các công ty PR bên ngoài với. Các công ty chuyên về PR này, với một danh mục dịch vụ khá rộng, luôn được đông đảo khách hàng tìm đến. Đòi hỏi của khách hàng cũng thật muôn màu, muôn vẻ: xây dựng các chiến dịch truyền thông hướng đến các đối tượng khách hàng khác nhau, quản lý các sự kiện đặc biệt như họp báo, ra mắt sản phẩm mới, tổ chức các buổi lễ khai trương và lễ khánh thành, viết tài liệu giới thiệu, bản tin và thông cáo báo chí, dịch các tài liệu và theo dõi báo chí trong nước và quốc tế…

Về phía các nhân viên PR, mảnh đất tiến thân đang ngày càng trở nên màu mỡ hơn khi mà các công ty đang hiểu ra tầm quan trọng của hoạt động như một phần trong các kế hoạch giao tiếp lớn của họ. “Tương lai của ngành này chỉ có một con đường, và đó là con đường đi lên”- Howard Deam nhận định.

<Nguồn: vietpr>

Tháng Tám 29, 2006 Posted by | Kiến thức | Để lại phản hồi

Một số khái niệm tài chính doanh nghiệp

1. Doanh số

Mức tăng của doanh số phải lớn hơn so với mức tăng của các khoản chi.

Doanh số là chỉ số về hoạt động của doanh nghiệp. Doanh số tăng đều đồng nghĩa với sự thành công của doanh nghiệp nhờ vào các hoạt động chính trong thị trường của nó.

Doanh số có thể tăng một cách đột ngột. Để phân tích được sự tăng đột ngột này cần biết xem trong khoảng thời gian gần đây, doanh nghiệp có thực hiện chiến lược gì mới về mặt sản xuất hay marketing hay không. Đôi khi sự thay đổi này không hoàn toàn là một điểm lành cho doanh nghiệp. Nó có thể kéo theo nhu cầu tăng tổng số đầu tư để nâng cao chất lượng của dây truyền sản xuất. Sự đầu tư này có thể nằm ngoài khả năng của các nhà góp vốn và ngân hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải chú ý đến mức tăng của các khoản chi vì nếu các khoản chi cũng tăng nhanh thì khả năng sinh lời có thể bị giảm xuống. Chính vì lí do đó, mà các nhà quản lí luôn làm một phép tính nhỏ để tính thông số giữa các khoản chi và doanh số.

Ngược lại, doanh số giảm thể hiện những khó khăn về thương mại hoặc những trục trặc về tài chính đáng ngại khác.

2. Các khoản khấu hao và dự phòng

Đôi khi được phụ trội hoặc giảm xuống để làm biến đổi kết quả

Khấu hao là sự ghi nhận trên kế toán một sự giảm giá của một yếu tố tài sản có, do sử dụng, do thời gian, do thay đổi kỹ thuật hay bất kỳ lý do nào khác. Khấu hao được coi là những khoản phải trả trong niên khóa. Khấu hao có thể có trên các tài khoản có : máy móc, kho, hoặc các khoản cho vay v..v … Đây là một phần khá quan trọng đặc biệt cho các doanh nghiệp có phần tài sản có lớn và sử dụng phần tài sản có này để phát triển hoạt động chính. Có thể lấy ví dụ trong các ngành công nghiệp. Cách đánh giá các khoản khấu hao không hề dễ dàng bởi các doanh nghiệp có quyền điều biến tổng số của các khoản này . Doanh nghiệp có thể khấu hao bất động sản nhanh hơn hoặc giảm quá trình khấu hao này xuống thông qua các thuật tính toán khác nhau. Trong cùng lúc đó, nó có thể áp dụng các nguyên tắc lỏng lẻo hơn hoặc chặt chẽ hơn cho các khoản dự phòng. Các nhà quản lý thường điều biến các khoản khấu hao và dự phòng để chính sủa kết quả theo ý muốn. Hầu hết việc điều biến các khoản khấu hao, ngay cả khi nó có đôi chút không tôn trọng các nguyên tắc cũng không bị phạt.

Khi nói đên khấu hao thì cũng phải chú ý đến việc hủy bỏ các khoản dự phòng khi nó không còn cần thiết nữa vì nó sẽ đưa đến một kết quả ngược lại so với các khoản dự phòng.

3. Kết quả kinh doanh

Được sử dụng để tính khả năng sinh lời kinh tế.

Kết quả kinh doanh là thương số giữa các khoản phải trả và những kết quả kinh doanh của niên khóa. Đó là lãi kinh doanh nếu số tiền thu về cao hơn các khoản phải trả. Ngược lại, là lỗ kinh doanh. Nó định mức tính hiệu quả của dây truyền sản xuất. Nó được so sánh với toàn bố tài sản có được đầu tư cho việc sản xuất. Các số liệu để tính tài sản có được ghi trong bảng tổng kết tài sản hàng năm bao gồm : bất động sản, kho, các khỏan cho vay sau khi đã trừ hết các khoản nợ.

Tuy nhiên, kết quả kinh doanh là một số liệu không hoàn chỉnh vì các khoản chi thu bất thường hoặc tham gia tài chính không được tính trong kết quả kinh doanh.

4. Chí phí tài chính

Chi phí tài chính có thể bao gồm phần lãi của các khoản vay. Mức độ của chi phí tài chính phụ thuộc vào hai biến số. Biến số thứ nhất là tổng số mà doanh nghiệp vay, biến số thứ hai là lãi suất. Chúng ta có thể thử tính lãi suất trung bình được áp dụng cho doanh nghiệp bằng cách tính thông số so sánh giữa chi phí tài chính và các khoản nợ tài chính. Sự tồn tại của các chi phí tài chính không phải là một điểm xấu cho doanh nghiệp. Ngược lại, nó chứng mình rằng đây là một doanh nghiệp đã có các điều kiện để vay vốn tại ngân hàng. Tất nhiên, mức chi phí tài chính càng lớn thì kết quả sau khi trừ thuế của niên khóa càng thấp và điều đó có thể không làm hài lòng các cổ đông.

5. Kết quả sau khi trừ thuế

Kết quả sau khi trừ thuế là số dư của tài khoản kết quả : sự chênh lêch giữa toàn bộ khoản thu và khoản chi. Kết quả sau khi trừ thuế là một số dương hoặc tăng lên không chứng tỏ được rằng doanh nghiệp thu lời. Để biết doanh nghiệp có thu lời hay không thì phải tính khả năng sinh lời tài chính ( kết quả sau khi trừ thuế/ vốn đầu tư của các cổ đông), sau đấy so sánh với chỉ số sinh lời mà các cổ đông mong muốn.

<Nguồn: VietManagement>

Tháng Tám 29, 2006 Posted by | Kiến thức | Để lại phản hồi

Giới thiệu sơ lược về kế toán

Kế toán đơn giản là thông tin. Nhiệm vụ của kế toán viên là cung cấp thông tin cho những người sử dụng khác nhau như các cổ đông, ngân hàng đối tác, các nhân viên cao cấp để đưa ra các quyết sách kinh tế. Những người này sử dụng thông tin với các mục đích khác nhau. Các cổ đông cần thông tin để xác định nên mua hay bán cổ phiếu, ngân hàng cần thông tin để đánh giá các khoản nợ của khách hàng, các nhà lănh đạo công ty cần thông tin để quyết định các hoạt động kinh doanh. Kế toán cũng được các cá nhân sử dụng nhằm theo dõi các khoản chi thu, nhằm xác định thời điểm hợp lý để đầu tư vào thị trường chứng khoán hay đầu tư mua bất động sản, và có thể nhằm xác định các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp. Vậy đó, kế toán tồn tại khắp nơi, trong mọi lĩnh vực.

Có thể thấy rằng thông tin kế toán dành cho hai bộ phận người sử dụng phân biệt. Thứ nhất là người sử dụng nội bộ, những người thuộc tổ chức công ty, sử dụng thông tin kế toán nhằm quản lý tổ chức và điều hành kinh doanh. Chẳng hạn như một giám đốc cần kiểm soát lượng tồn kho, xác định lỗ lãi, bảo đảm tài sản, lập ngân sách… Thứ hai là người sử dụng bên ngoài, những người không thuộc tổ chức công ty. Đó có thể là các cổ đông, là cơ quan thuế, là ngân hàng, các nhà phân tích tài chính, nhà cung cấp, khách hàng…

Nói một cách khái quát, kế toán là một công cụ để nhận dạng, đo lường và truyền thông tin về các đối tượng kinh tế nhằm phục vụ cho việc đưa ra các quyết sách kinh tế.

Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mỳ, dê, quần áo… Bản ghi này được gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae được gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận được. Lúc này vẫn chưa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trước công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và được sử dụng cho đến ngày nay.

Việc giữ các bản ghi vẫn chưa được hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice and Genoa. Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện được bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối.

Hệ thống kế toán kép được đưa ra ở Genoa làm cho việc lưu giữ các bản ghi có hệ thống hơn. Hệ thống này buộc các nghiệp vụ đơn phải được ghi 2 lần vào bên nợ (debit) và bên có (credit), được giới thiệu chính thức bởi Luca Pacioli trong cuốn Summa de Arithmetica, Geimetrica, Proportioni et Proportionalita năm 1494. Từ đó, ngành kế toán đã phát triển vượt bậc. Hệ thống kế toán kép đã trở thành nguyên tắc cơ bản cho thế giới kế toán ngày nay và Luca Pacioli được coi là cha đẻ của ngành kế toán. Về sau, có thêm các nghiên cứu khác như “How To Keep a Perfect AcCompte Of Debitour and Creditour” của James Peele năm 1553, “English System Of Book Keeping”  của Edward Jones năm 1795.

Cho đến này, ý tưởng cơ bản của kế toán không thay đổi là bao so với các doanh nhân ở Genoa ngày ấy. Sự thay đổi lớn nằm ở các phương thức lưu bút toán. Máy tính và các phương tiện hiện đại khác đã giúp cho việc bút toán trở nên dễ dàng hơn và các thông tin về các đối tượng kinh tế cũng trở nên kịp thời và đáng tin cậy hơn.

<Nguồn: VietManagement>

Tháng Tám 29, 2006 Posted by | Kiến thức | Để lại phản hồi

Bí quyết lấy lòng “ông bà nhạc”

Cha mẹ có con gái lớn rất cảnh giác với “mấy cậu choai choai”. Bởi thế, muốn có được nàng, chinh phục các cụ là điều không đơn giản. Phải cư xử sao cho chững chạc, đáng tin, các cụ rồi sẽ giao con yêu cho bạn.

Ấn tượng ban đầu 

Điều đầu tiên cần nhớ rõ là bạn phải cư xử cho đáng mặt nam nhi, để không bậc phụ huynh nào nỡ “ghét”. Ấn tượng ban đầu bao giờ cũng quan trọng, cả đối với bông hồng trong tim bạn hay cha mẹ của nàng.  

Chững chạc và tự tin

Trước hết hãy xin phép được gặp bố mẹ nàng, khéo léo tạo ra điểm chung giữa mọi người, chia sẻ suy nghĩ và sở thích của bạn. Qua đó bạn sẽ phần nào hiểu họ. Tránh đề cập đến những vấn đề nhạy cảm như chính trị hay tôn giáo, quá bảo vệ cái tôi…

Thực tế bạn cũng có thể chuẩn bị cho mình một số câu trả lời từ trước cho những câu hỏi như “5 năm nữa, cháu nghĩ mình sẽ như thế nào?”.

Đừng lo rằng bạn đang bị phỏng vấn. Bố mẹ nàng chỉ muốn biết con gái họ rồi sẽ sống như thế nào thôi.

Bày tỏ lòng tôn trọng

Nói một cách nghiêm túc, trong trường hợp này, bạn phải đặt mọi hành động của mình vào tầm kiểm soát. Nói chuyện với bố mẹ nàng, hãy thật tôn trọng họ. Đứng dậy chào khi thấy họ và đừng quên nở một nụ cười.

Nếu ở nhà nàng, hãy giúp nàng dọn dẹp sau bữa ăn và không quên pha nước mời bố mẹ “vợ”.

Chứng minh năng lực

Các bậc phụ huynh đều mong con gái mình lấy được tấm chồng giỏi giang. Vì thế nếu có thể, hãy mời bố mẹ nàng dùng bữa tối.

Bạn có thể tăng phần trịnh trọng bằng cách mời họ về nhà và tự nấu những món ăn mà bạn có thể. Hãy cho họ thấy khả năng tài chính của bạn, thói quen, lối sống của bạn.

Bày tỏ sự chân thành

Được mời dùng cơm, bạn hãy đem theo bó hoa và vài tấm ảnh của hai người khi đến nhà nàng. Những tấm ảnh có thể là lời mở đầu cho mọi câu chuyện.

Dù bữa tiệc diễn ra ở đâu, đừng quên mang theo camera để lưu lại những khoảnh khắc tuyệt vời. Điều này chứng tỏ bạn rất trân trọng giờ phút bên cạnh gia đình nàng.

Chiều “nhạc phụ” tương lai

Ông bố nào cũng muốn bảo vệ con gái mình bằng mọi giá. Cứ yên tâm rằng chừng nào chưa “cưa đổ” được “ông cụ”, chừng đó bạn vẫn là kẻ ở bên kia chiến tuyến. Song đừng quá lo lắng. Xét cho cùng, cha nàng cũng một thời “chai mặt” như bạn thôi.

Hãy cố gắng nói chuyện với bác ấy “như hai người đàn ông với nhau”. Tuyệt đối không nên mời bác tới chỗ vui chơi của đám thanh niên. Hãy cho bác ấy thấy sự tôn trọng của một “hậu sinh” đối với “bậc tiền bối”.

Nếu cha nàng mê bóng rổ, hãy thuyết phục bác ấy tham gia vào một trận đấu nào đó, hoặc mời bác đến dự bữa tiệc nhỏ của cả đội.

Đừng quên thể hiện cho cha nàng thấy bạn tốt thế nào trong mắt bạn bè. Và bạn còn là một chàng trai không phải lúc nào cùng theo đuôi con gái nữa chứ. “Ông cụ” sẽ tôn trọng và xem bạn như một đối thủ đáng tầm cạnh tranh.

Cũng có thể xin “người bạn lớn” này lời chỉ bảo trong mối quan hệ với mọi người, thậm chí là với cô con gái cưng của bác ấy.

Thông thường các bậc phụ huynh rất sẵn lòng giúp đỡ, trao đổi kinh nghiệm với con cái. Dù lời khuyên đó có hữu ích hay không thì ít nhất nó cũng đem lại sự tin tưởng. Bác ấy sẽ vui vì thấy “mình còn có ích cho bọn trẻ”.

“Nhạc mẫu” tương lai

Đừng bao giờ đánh giá thấp vị trí của bà “thái hậu” trong gia đình. Trong mắt mẹ nàng, bạn luôn khác xa so với hình ảnh nàng đã dày công thêu vẽ.

Có khi bà sẽ rất nghiêm khắc, thậm chí chỉ trích bạn. Đơn giản mẹ nàng đang nhớ lại chính bản thân mình 20 năm về trước. Bà muốn khẳng định rằng, con gái mình không bị tình yêu làm lu mờ lí trí.

Bà sẽ cố tìm ra những đặc điểm khiến nàng yêu bạn. Thông qua cách cư xử của bạn với chính bà để tự suy ra cách bạn sẽ cư xử với con gái rượu, vì thế hãy thật cẩn trọng.

Hãy luôn bày tỏ lòng biết ơn và sự tôn trọng với mẹ nàng. Cư xử thật đúng mực rồi ngày nào đó bạn sẽ thấy bà mỉm cười.

Với sự hậu thuẫn của nàng, lòng tin vào chính bản thân và khả năng của mình, bạn sẽ thành công. Hãy cố gắng hết sức và luôn ở thế chủ động.

Quan trọng nhất là nàng biết rõ tình cảm và sự cố gắng của bạn, mọi chuyện rồi sẽ qua.

(Nguồn: DanTri.com.vn)

Tháng Tám 29, 2006 Posted by | Bí kíp | Để lại phản hồi

   

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.