Một số khái niệm tài chính doanh nghiệp
1. Doanh số
Mức tăng của doanh số phải lớn hơn so với mức tăng của các khoản chi.
Doanh số là chỉ số về hoạt động của doanh nghiệp. Doanh số tăng đều đồng nghĩa với sự thành công của doanh nghiệp nhờ vào các hoạt động chính trong thị trường của nó.
Doanh số có thể tăng một cách đột ngột. Để phân tích được sự tăng đột ngột này cần biết xem trong khoảng thời gian gần đây, doanh nghiệp có thực hiện chiến lược gì mới về mặt sản xuất hay marketing hay không. Đôi khi sự thay đổi này không hoàn toàn là một điểm lành cho doanh nghiệp. Nó có thể kéo theo nhu cầu tăng tổng số đầu tư để nâng cao chất lượng của dây truyền sản xuất. Sự đầu tư này có thể nằm ngoài khả năng của các nhà góp vốn và ngân hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải chú ý đến mức tăng của các khoản chi vì nếu các khoản chi cũng tăng nhanh thì khả năng sinh lời có thể bị giảm xuống. Chính vì lí do đó, mà các nhà quản lí luôn làm một phép tính nhỏ để tính thông số giữa các khoản chi và doanh số.
Ngược lại, doanh số giảm thể hiện những khó khăn về thương mại hoặc những trục trặc về tài chính đáng ngại khác.
2. Các khoản khấu hao và dự phòng
Đôi khi được phụ trội hoặc giảm xuống để làm biến đổi kết quả
Khấu hao là sự ghi nhận trên kế toán một sự giảm giá của một yếu tố tài sản có, do sử dụng, do thời gian, do thay đổi kỹ thuật hay bất kỳ lý do nào khác. Khấu hao được coi là những khoản phải trả trong niên khóa. Khấu hao có thể có trên các tài khoản có : máy móc, kho, hoặc các khoản cho vay v..v … Đây là một phần khá quan trọng đặc biệt cho các doanh nghiệp có phần tài sản có lớn và sử dụng phần tài sản có này để phát triển hoạt động chính. Có thể lấy ví dụ trong các ngành công nghiệp. Cách đánh giá các khoản khấu hao không hề dễ dàng bởi các doanh nghiệp có quyền điều biến tổng số của các khoản này . Doanh nghiệp có thể khấu hao bất động sản nhanh hơn hoặc giảm quá trình khấu hao này xuống thông qua các thuật tính toán khác nhau. Trong cùng lúc đó, nó có thể áp dụng các nguyên tắc lỏng lẻo hơn hoặc chặt chẽ hơn cho các khoản dự phòng. Các nhà quản lý thường điều biến các khoản khấu hao và dự phòng để chính sủa kết quả theo ý muốn. Hầu hết việc điều biến các khoản khấu hao, ngay cả khi nó có đôi chút không tôn trọng các nguyên tắc cũng không bị phạt.
Khi nói đên khấu hao thì cũng phải chú ý đến việc hủy bỏ các khoản dự phòng khi nó không còn cần thiết nữa vì nó sẽ đưa đến một kết quả ngược lại so với các khoản dự phòng.
3. Kết quả kinh doanh
Được sử dụng để tính khả năng sinh lời kinh tế.
Kết quả kinh doanh là thương số giữa các khoản phải trả và những kết quả kinh doanh của niên khóa. Đó là lãi kinh doanh nếu số tiền thu về cao hơn các khoản phải trả. Ngược lại, là lỗ kinh doanh. Nó định mức tính hiệu quả của dây truyền sản xuất. Nó được so sánh với toàn bố tài sản có được đầu tư cho việc sản xuất. Các số liệu để tính tài sản có được ghi trong bảng tổng kết tài sản hàng năm bao gồm : bất động sản, kho, các khỏan cho vay sau khi đã trừ hết các khoản nợ.
Tuy nhiên, kết quả kinh doanh là một số liệu không hoàn chỉnh vì các khoản chi thu bất thường hoặc tham gia tài chính không được tính trong kết quả kinh doanh.
4. Chí phí tài chính
Chi phí tài chính có thể bao gồm phần lãi của các khoản vay. Mức độ của chi phí tài chính phụ thuộc vào hai biến số. Biến số thứ nhất là tổng số mà doanh nghiệp vay, biến số thứ hai là lãi suất. Chúng ta có thể thử tính lãi suất trung bình được áp dụng cho doanh nghiệp bằng cách tính thông số so sánh giữa chi phí tài chính và các khoản nợ tài chính. Sự tồn tại của các chi phí tài chính không phải là một điểm xấu cho doanh nghiệp. Ngược lại, nó chứng mình rằng đây là một doanh nghiệp đã có các điều kiện để vay vốn tại ngân hàng. Tất nhiên, mức chi phí tài chính càng lớn thì kết quả sau khi trừ thuế của niên khóa càng thấp và điều đó có thể không làm hài lòng các cổ đông.
5. Kết quả sau khi trừ thuế
Kết quả sau khi trừ thuế là số dư của tài khoản kết quả : sự chênh lêch giữa toàn bộ khoản thu và khoản chi. Kết quả sau khi trừ thuế là một số dương hoặc tăng lên không chứng tỏ được rằng doanh nghiệp thu lời. Để biết doanh nghiệp có thu lời hay không thì phải tính khả năng sinh lời tài chính ( kết quả sau khi trừ thuế/ vốn đầu tư của các cổ đông), sau đấy so sánh với chỉ số sinh lời mà các cổ đông mong muốn.
<Nguồn: VietManagement>
Chưa có phản hồi.
Gửi phản hồi
-
Gần đây
- Vài chiêu tán gái
- Đi tìm hình mẫu Alibaba.com cho thương mại điện tử Việt Nam
- Chân dung nhân viên quan hệ công chúng
- Một số khái niệm tài chính doanh nghiệp
- Giới thiệu sơ lược về kế toán
- Bí quyết lấy lòng “ông bà nhạc”
- Bí quyết kưa Girl trên NET
- The art of philandering with the girls – Lesson 10
- The art of philandering with the girls – Lesson 9
- The art of philandering with the girls – Lesson 8
- The art of philandering with the girls – Lesson 7
- The art of philandering with the girls – Lesson 6
-
Liên kết
-
Lưu trữ
- Tháng Tám 2006 (20)
-
Chuyên mục
-
RSS
RSS của bài viết
RSS của phản hồi
